PHAN THUẬN AN – “Nhớ Huế 25”

Huế là một trong những địa danh của Việt Nam có mặt sớm nhất trên các bản đồ thế giới. Điều này chứng tỏ vùng đất Huế . đã có được một vị thế quan trọng nhất định về lịch sử và văn hóa trong bức tranh chung của nước nhà.

Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, Huế là dấu nối giữa hai miền Bắc Nam, là trạm trung chuyển của bao thế hệ người Việt trên con đường nam tiến để hình thành nên diện mạo của tổ quốc mình. Mãi đến ngày nay, Huế vẫn còn tiếp tục đóng góp một phần rất xứng đáng vào trong kho tàng văn hóa phong phú của đất nước. Chẳng những thế, quần thể di tích Huế còn được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới đầu tiên của Việt Nam và Nhã nhạc triều Nguyễn cũng đã được công nhận là Di sản Phi vật thể và Truyền khẩu của nhân loại.

Một trong những nguyên ủy của các giá trị toàn cầu đặc biệt đó là tính địa – văn hóa của miền núi Ngự sông Hương.

Nằm giữa miền Trung của Việt Nam, Huế cách Thủ đô Hà Nội 653 km về phía nam và cách thành phố Hồ Chí Minh 1071 km về phía bắc tính theo đường bộ quốc lộ 1A. Hiện nay, thành phố Huế với diện tích chỉ có 67.7 km và dân số chưa tới 310.000 người, nhưng đây là một trong năm thành phố cấp quốc gia, và được xem là một trung tâm văn hóa và du lịch trong nước và quốc tế.

Giá trị lịch sử và văn hóa của Huế đã làm cho nó vượt ra khỏi ranh giới hành chính nếu trên rất nhiều. Trong quan niệm đó, có thể nói đây là vùng Huế hoặc vùng văn hóa Huế. Vùng Huế ngày nay là đất Phú Xuân Thuận Hóa ngày xưa.

Không gian văn hóa đó đã được ghi rõ qua một câu ca dao lịch sử:

Làm trai cho đáng nên trai

Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đã từng.

Lùi xa hơn về quá khứ, khái niệm vùng Thuận Hóa là dải đất nằm giữa hai con đường đèo được hình thành do hai rặng núi từ dãy Trường Sơn đâm ngang ra biên: đèo Ngang và đèo Hải Vân.

Sự mở rộng không gian văn hóa Huế một thời như thế cũng là một điều có thể hiểu được, nhất là từ thế kỷ XVII trở về sau. Trong thời gian dài Phú Xuân – Huế giữ vị thế thủ phủ của Đàng Trong, rồi đóng vai trò Kinh đô của cả nước thống nhất, đây là nơi hội tụ và tỏa sáng mọi tinh hoa của dân tộc. Sự lan tỏa của các nét đẹp văn hóa cao quý từ vùng đất kinh kỳ một thuở vẫn còn tiếp tục mãi đến sau này. Ngày nay, mặc dù vị thế chính đã qua đi, nhưng thiên nhiên xinh đẹp, kiến trúc cổ kính và con người “thượng kinh” ở đây vẫn tồn tại như một tổ hợp di sản văn hóa đặc thù của dân tộc. Thiên nhiên vùng Huế là một món quà tặng mà tạo hóa đã dành sẵn cho con người. Vùng đất này có hầu hết các yếu tố địa lý tự nhiên trong nước: rừng núi, gò đồi, đồng bằng, sông ngòi, đầm phá, biển cả… Sông Hương và núi Ngự, muôn thuở như một cặp tình nhân, đóng những vai trò quan trọng nhất đối với kiến trúc và con người xứ Huế.

Vẻ đẹp thơ mộng hữu tình của sông núi ấy và những thắng cảnh khác ở đây chính là nhân tố quyết định đối với sự thiết lập và thăng hoa của đô thị cổ này. Ở Huế, địa hình không hùng vĩ như ngoài Bắc, không bao la như trong Nam. Đồng bằng ở đây tương đối hẹp, chung quanh là núi biếc, ở giữa có dòng sông uốn lượn mềm mại trong lòng đô thì. Ở nhiều nơi, sông và núi xích lại gần kế bên nhau, tạo thành những bức tranh thủy mặc. Sông Hương êm đềm và trong vắt như một tấm gương phản chiếu cảnh vật ở đôi bờ. Còn núi Ngự Bình thì trang nghiêm và trầm mặc như dáng dấp của một nhà hiền triết. Huế đẹp từ ngọn núi đến dòng sông, từ đồi thông đến thảm cỏ. Nhìn khắp thấy cả một màu xanh.

Ngoại cảnh tác động vào nội tâm, đây là một qui luật. Môi trường thiên nhiên xinh xắn, xanh tươi và trầm lặng ấy đã ảnh hưởng đến tâm hồn và trí tuệ của cư dân sống trong lòng nó. Trái tim ai cũng rung cảm khi đứng trước những khung cảnh sơn kỳ thủy tú. Cảm xúc thẩm mỹ đã được trí tuệ nâng lên thành nghệ thuật. Loại hình nghệ thuật sáng giá nhất ở đây là kiến trúc cảnh quan.

Theo dòng tư duy triết học truyền thống của Đông phương nói chung và của Việt Nam nói riêng, giữa thiên nhiên và con người có một mối tương quan hòa hợp. Cho nên, trong các giai đoạn xây dựng và phát triển độ thị của mình, người Huế đã không dùng những biện pháp thô bạo để chế ngự thiên nhiên, mà chi tổ chức lại thiên nhiên thành một giá trị văn hóa đề tham dự vào cuộc sống nhân văn của mình như trong tư cách bầu bạn, Kiến trúc Huế là kiến trúc mở. Hề có nhà là có vườn. Không gian nội thất được nối rộng thêm bằng cách nối tiếp với thiên nhiên ngoại cảnh. Nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi đã từng nhận xét về kiến trúc cảnh quan ở Huế: “Không gian bên ngoài luồn vào không gian của kiến trúc, kéo kiến trúc về với thiên nhiên, góp phần tổ chức lại không gian chung”.

Từ khi xây dựng thủ phủ Phú Xuân đến lúc nâng cấp thành Kinh đô Huế, các nhà kiến trúc tiền bối đã nâng cao giá trị của các thực thể địa lý tự nhiên trong vùng bằng cách gắn vào cho chúng những chức năng tâm linh phát xuất từ Dịch lý và thuật Phong thủy. Họ không bao giờ để cho công trình kiến trúc của mình đứng cô đơn và khô cứng dưới ánh sáng mặt trời, mà bao giờ cũng lợi dụng thiên nhiên để thổi vào cho nó một cái hồn, tạo ra cho nó một thần thái. Kiến trúc Huế vừa mang tính triết lý sâu sắc, vừa có giá trị thẩm mỹ bền vững. Các loại hình kiến trúc cung đình và dân gian ở đây, như thành quách, cung điện, lăng tẩm, đình chùa, nhà vườn… đều có cùng một phong cách như thế. Đó chính là “sự tổng hợp đạo và đời trong kiến trúc” như một quan chức UNESCO đã nhận định khi đến thăm Huế.

Ảnh: Tushar Gidwani

Sự hài hòa giữa địa lý tự nhiên và đường nét kiến trúc ở đây đã làm cho Huế trở thành một vùng đất của thơ, một bầu trời của nhạc, một thế giới của tâm hồn. Tâm hồn đó, ngoài tính cách chung đã mang theo từ chốn cội nguồn của dân tộc, còn có sự cộng hưởng với những nhân tố vốn có tại bản địa, sự hỗn dụng những yếu tố phương Nam, sự hội nhập, tiếp biến những tinh hoa bên ngoài, và óc sáng tạo cũng như bàn tay khéo léo của nhiều thế hệ tài hoa, tất cả hợp thành và tạo ra một tính cách đặc thù của cố đô, gọi là văn hóa Huế.

Nhiều văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ, nghệ sĩ, nhà biên soạn tuồng… đã từng được nuôi dưỡng, đào tạo và xuất thân từ mảnh đất văn hiến này. Có thể đây là nơi họ sinh trưởng, nhưng cũng có thể đây chỉ là chỗ họ dừng chân lưu trú trong một thời đoạn của cuộc đời. Trí tuệ và tâm hồn của họ đã được hun đúc và tinh chế để trở thành một số không ít những nhân vật lỗi lạc mà tên tuổi đã vang xa ra ngoài ranh giới vùng Huế và ngoài biên địa nước nhà.

Nhưng, trong ngót 30 năm kể từ khi triều Nguyễn cáo chung vào năm 1945, Huế đã trải qua nhiều biến động của lịch sử với những cơn binh hỏa tàn khốc làm cho mặt nước sông Hương vốn êm đềm thơ mộng lắm lúc cũng phải chau mày, và người dân địa phương cùng mọi loại hình di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tại Cố đô đều phải gánh chịu nhiều tổn thương.

Tuy nhiên, mãi đến năm 1981, ông Tổng Giám đốc UNESCO Amadou Mahtar M’Bow khi đến thăm Huế vẫn đánh giá cao các di sản văn hóa của thành phố này:

“Cách cấu tạo tượng trưng của các khoảng không gian khác nhau làm cho Huế trở thành thành phố của sự hài hòa tuyệt diệu. Huế thực hiện được sự tổng hợp đạo và đời trong kiến trúc, tổng hợp được cổ xưa và hiện đại, qua đó cố đô cổ kính chung sống hài hòa với thành phố trẻ mới ngày nay.

“Nhưng Huế không phải chỉ là một mẫu mực về kiến trúc mà còn là một cao điểm về tinh thần và một trung tâm văn hóa sôi động ở đó đạo Phật và đạo Khổng đã thấm sâu, hòa nhuyễn vào đời sống địa phương, nuôi dưỡng một tư tưởng tôn giáo, triết học và đạo lý hết sức độc đáo.

“Chính tại thành phố này, nơi mà những người dân đều nổi tiếng là bẩm sinh có một hồn thơ lai láng, nhạc cổ điển cũng như nhạc dân gian đã được phát triển. Quê hương của nhiều nghệ sĩ, trung tâm sáng tạo nghệ thuật sân khấu, cố đô Việt Nam cũng là một trung tâm hoạt động văn hóa và khoa học…”

Mãi đến ngày nay, người Huế vẫn tự hào về các giá trị văn hóa truyền thống còn gìn giữ được. Cuộc sống của họ gắn bó chặt chẽ với quá khứ. Họ ngoái nhìn lịch sử qua các di sản vật chất cũng như tinh thần, và họ đang nỗ lực trong công cuộc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đó, để di sản hóa thân vào việc nâng cao đời sống kinh tế – xã hội của địa phương.

Nhìn lại 700 năm trước, Thuận Hóa – Huế mới chỉ là vùng biên địa xa xôi, nơi rừng thiêng nước độc từng được gọi là “Ô châu ác địa”. Nhưng, nhờ bao thế hệ người Việt đến định cư, xây dựng, mở mang, nhất là từ đầu thế kỷ XIX, tạo ra được những giá đặc thù trong vườn hoa văn hóa nghệ thuật phong phú và đa sắc của đất nước và của thế giới.

Ngày nay, như một sự xếp đặt sẵn của tính địa – văn hóa với hai giá trị di sản mang tầm quốc tế của mình, Huế trở thành trọng điểm trong tuyến du lịch các Di sản Thế giới ở miền Trung Việt Nam.

P.T.A.