PHAN THUẬN AN – “Nhớ Huế 25 (NXB Trẻ)”
Cũng như tại hầu hết các đô thị khác ở 3 nước Đông Dương thuộc Pháp (Việt Nam, Cambodge, Lào), tại kinh đô Huế, chính quyền thực dân bấy giờ đã thiết lập một khu phố mới theo kiểu kiến trúc châu Âu, thường được gọi là khu phố Tây.
Theo Hiệp ước ký kết năm 1874, triều đình Việt Nam phải để cho Pháp xây một Tòa sứ ở bờ nam sông Hương. Nó được xây xong vào năm 1878 (về sau, nó trở thành Tòa Khâm sứ Trung Kỳ; toạ lạc ở vị trí trường Đại học Sư phạm Huế ngày nay).

Từ đó trở đi, nhất là sau ngày Kinh đô thất thủ (1885), ở trong thế của kẻ mạnh, người Pháp đã ép Nam triều nhường thêm đất đai chung quanh khu vực Toà sứ để xây dựng thêm nhiều công trình kiến trúc khác nhằm phục vụ cho bộ máy chính quyền bảo hộ tại chỗ: các trại lính bảo vệ Toà sứ, Bưu điện, Bệnh viện, Nhà đoan, Kho bạc, Nhà băng, Toà Công chánh (nay là trụ sở UBND Thành phố), Nhà ga, Dinh Công sứ, trường Quốc Học, trường Đồng Khánh, Đài Chiến sĩ trận vong, các Nhà thờ Thiên Chúa Giáo, Toà Tổng Giám mục, Câu lạc bộ Thể thao, Sân Vận động, Nhà đèn, Khách sạn, các công sở, các biệt thự, v.v…
Từ một khoảng nhượng địa ban đầu có hình tứ giác mỗi bề khoảng 600 m, trong những thập niên cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, hàng trăm công trình kiến trúc lớn nhỏ khác nhau đại loại như thế đã lần lượt mọc lên ở khu vực rộng lớn này từ Đập Đá đến ga Huế và dọc theo bờ sông An Cựu, rồi quay lại phía sân Vận động không xa Toà sứ.
Họ đã tạo ra ở đây một khu kiến trúc theo kiểu thức hiện đại và tất nhiên là bằng vật liệu bê tông cốt thép. Khu vực kiến trúc này cũng đã được gọi là Thành phố người Âu (Ville Européenne) để phân biệt với khu vực kiến trúc cổ kính của Kinh thành ở bên kia sông Hương được họ gọi là Thành phố An Nam (Ville Annamite).
Ngày nay, căn cứ vào một số đặc tính của các công trình kiến trúc hiện đại thời ấy, người ta còn gọi chung đó là kiến trúc thuộc địa (architecture colo-niale). Mặc dù khu phố ấy bị xếp vào loại kiến trúc thuộc địa, nhưng có một điều may mắn là người Pháp đã qui hoạch và xây dựng khu phố Tây ở Huế một cách có ý thức. Tôn trọng giá trị tự nhiên của sông Hương nói riêng và vẻ đẹp hài hoà của tổng thể kiến trúc Kinh đô Huế nói chung, họ đã không tạo ra sự đối nghịch với phong cảnh thiên nhiên và phong cách kiến trúc vốn có của Huế xưa.

Các công ốc và dinh thự tân thời đều được xây dựng ở những vị trí hơi xa bờ sông Hương, phần lớn là ở bên lề phía nam của đường Jules Ferry (nay là đường Lê Lợi). Từ bờ sông lên đến lề phía bắc của con đường là những thảm cỏ xanh hoặc những hoa viên xinh xắn. Ở hai lề đường ấy, họ còn trồng những hàng cây đại thọ, vừa để làm mát và đẹp cho con đường, vừa để che khuất các công trình kiến trúc bê-tông quét màu vôi sáng, tránh khỏi tầm nhìn từ bên kia bờ sang hoặc từ mặt sông lên. Tất nhiên, bấy giờ, họ có xây dựng một số công trình kiến trúc ở sát bờ sông, chẳng hạn như câu lạc bộ Thể thao (nay là Trung tâm Dịch vụ Du lịch Festival). Nhưng, câu lạc bộ này khó có thể thiết lập ở một nơi nào khác, vì chức năng của nó có phần gắn liền với mặt nước sông Hương, như các môn bơi lội, nhào lộn, đua thuyền, đi périssoire…
Công trình kiến trúc Đài Chiến sĩ Trận vong (Monument aux Morts) ở trước trường Quốc Học, hoặc nhà máy nước Vạn niên ở gần đồi Vọng Cảnh cũng đều mang những đường nét rất cổ kính, thích hợp với sông Hương, với khu lăng tẩm vua chúa, với Huế.

Vào khoảng năm 1936, khi qui hoạch và xây dựng lại hệ thống công viên ở hai bờ sông Hương, viên kỹ sư trưởng làm việc tại Toà Công chánh Trung kỳ ở Huế bấy giờ là Desmaretz cũng đã rất tôn trọng vẻ đẹp tự nhiên của con sông nổi tiếng này. Nhờ có ý thức như thế, cho nên trong một thời gian dài, ít nhất là đến năm 1954, hai hệ thống kiến trúc ở hai bờ con sông, tuy ra đời trong hai thời đại lịch sử khác nhau và xuất phát từ hai nền văn hoá khác nhau, vẫn cùng tồn tại một cách êm đẹp trên một mẫu số chung về giá trị nghệ thuật.
Nếu định nghĩa kiến trúc là tổ chức lại không gian để phục vụ đắc lực cho cuộc sống của con người thì kiến trúc Huế trong những thế kỷ vừa qua đã thể hiện nhiệm vụ cao cả ấy một cách đầy đủ và có hiệu quả về mặt thẩm mỹ. Nó vừa đậm đà tính nhân văn và phong cách truyền thống của dân tộc, vừa mang tính đặc thù riêng của địa phương. Tại đây, chủ đề tư tưởng kiến trúc phát xuất từ Dịch lý và thuật Phong thuỷ đã đưa lại một hệ quả tốt đẹp là nghệ thuật kiến- trúc cảnh quan với những giá trị cao về thẩm mỹ và môi trường sinh thái.
Nhưng, có một thực tế oái oăm là từ khi chủ quyền đất nước trở về tay người Việt Nam thì không gian chuyển tiếp của kiến trúc cổ và cũ ở hai bờ sông Hương không còn được bảo lưu một cách cấn trọng, chu đáo nữa. Từ năm 1955 đến nay, một số công trình xây dựng cao to đã mọc lên sát mép nước hai bờ sông hoặc rất gần khu vực đệm cần thiết vừa nói: chẳng hạn như Khách sạn Hương Giang, Khách sạn Century, Lầu chợ Đông Ba (nguyên xưa không có lầu), Tháp nước (Château d’eau) Dã Viên, và gần đây nhất còn có một khách sạn xây cao hơn chục tầng mang ngôn ngữ kiến trúc không hoà điệu với cảnh quan chung và nhất là với dòng sông Hương êm đềm thơ mộng.
Trước năm 1975, có người từng viết rằng những công trình xây dựng mới như chợ Đông Ba, Giảng đường Trường Đại học Sư Phạm “là những hình khối thật lớn. đường nét kiến trúc loại này gây nên sự chửi bới thường xuyên giữa cảnh và vật”. muốn ghim Vấn đề cấp thiết được đặt ra hiện nay là trong cơ chế thị trường non trẻ và trên đà đô thị hoá vội vã thiếu kỷ cương, liệu các quĩ kiến trúc cổ, cũ và môi trường thiên nhiên lý tưởng của Huế còn tiếp tục bị phá vỡ nữa hay không? Liệu Huế có còn đáng được gọi là “Một kiệt tác về thơ kiến trúc đô thị”, “một thành phố bảo tàng”, một trung tâm văn hoá và du lịch quốc gia và quốc tế nữa hay không?!
