NGUYỄN XUÂN HOÀNG – “Nhớ Huế 25 (NXB Trẻ)”

Việc Trung tâm Di sản Thế giới UNESCO đề nghị chính quyền Thừa Thiên-Huế và cơ quan chuyên môn Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế lập hồ sơ để đệ trình UNESCO công nhận sông Hương và cảnh quan đôi bờ là di sản văn hóa nhân loại là một tin vui lớn, khiến người Huế tự hào. Nếu được công nhận, mà điều này nằm trong khả năng, thì đây sẽ là danh mục thứ mười bảy của Huế là di sản văn hóa nhân loại. Tin vui ấy làm nhiều người ngạc nhiên vì bản chất kỳ diệu của một thông tin lớn.

Có một câu hỏi thú vị được đặt ra là tại sao những dòng sông nổi tiếng trên thế giới như Lêna, Mississipi, Đa Nuýp, Hoàng Hà, Trường Giang, sông Ân, sông Hằng, sông Nin… chưa bao giờ nhận được lời đề nghị của UNESCO để được công nhận là di sản thế giới. Đó là những dòng sông lớn dài hàng nghìn cây số, chảy qua hàng chục quốc gia, có tầm vóc của một thiên nhiên hùng vĩ vào bậc nhất thiên hạ. Trong khi đó, dòng sông Hương kể từ đầu nguồn với tên gọi Ả Phàng (cuộc đời) cho đến mép biển cửa Thuận An chỉ dài vỏn vẹn một trăm cây số. Nếu những Lêna, Mississipi, Trường Giang, Hoàng Hà… là những đại lộ ánh sáng thì sông Hương là một con đường nhỏ nhiều cây xanh tràn ngập sương mù. Nếu những Đa Nuýp, sông Ấn, sông Hằng… là một dãy Đại Trường Sơn bạt ngàn đá núi thì sông Hương là một hòn non bộ đầy suy tưởng nằm trong khu vườn nhỏ lặng lẽ. Làm một phép so sánh giản đơn như vậy để chúng ta có thể thấy giá trị thật sự của sông Hương.

Ngoài những lợi ích thiết thực về kinh tế như nguồn nước sinh hoạt, phục vụ công nông nghiệp, giao thông, du lịch… giá trị để UNESCO đề nghị công nhận sông Hương là di sản thế giới là ở tầm văn hóa của nó. Trường tồn cùng với thời gian, sông Hương từ lâu đã đi vào thơ, ca, nhạc, họa… nó chảy cả vào địa hạt nghệ thuật thứ bảy với bộ phim “Cô gái bên sông” của đạo diễn nổi tiếng Đặng Nhật Minh. Chỉ riêng với nghệ thuật, sông Hương đã được ghi lại đầy đủ thân tâm của một diện mạo văn hóa sâu thẳm. Chỉ cần đọc một tứ thơ man mác ngậm những tà áo trinh nữ Huế ngan ngát hương thơm thảo cháy lồng cháy dạ học trò. Và qua chợ Đông Ba, sông Hương có mùi vị của những hiệu tạp hóa, mùi nón lá Huế ngai ngái dầu và mùi dầu cù là của các mẹ đi chợ phiên sớm… Nếu tinh tế và chịu khó có thể nghe mùa đông nước sông Hương có mùi vani kem, mùa hạ mùi hương sen, mùa thu tỏa hương cúc và mùa xuân tràn đầy hương của loài cỏ dại vẫn nở đầy ven các triền sông.

Còn trong một ngày, buổi sáng sớm từ dòng sông tỏa ra mùi hương lạnh lạnh của loại cà rem vẫn thường được bán dạo cho trẻ con. Buổi trưa, dòng sông ngập tràn mùi hương của nắng già pha với vị cá tôm nồng nhè nhẹ từ lòng những chiếc thuyền đánh cá trên sông. Và buổi chiều nước sông Hương có mùi thơm của hoa mimôda, lay lắt như một lời nhắn gởi nồng nàn: Xin đừng quên tôi… Hương từ giữa lòng sông dìu dịu bay cho đến khi mặt trời đỏ rực lặn xuống sau kinh thành Huế, và đêm tối từ những hàng cây nhoài ra mặt sông một sắc tím thoát ra hư vô. Chỉ riêng hương thơm, chưa nói đến vẻ đẹp kỳ lạ hầu như không có thật, sông Hương đã vượt Hoàng Hà, Trường Giang, Đa Nuýp… để trở thành ứng cử viên đầu tiên của thế giới đứng vào danh mục di sản văn hóa nhân loại.

Cũng từ đây, đặt ra bao nhiêu vấn đề ngổn ngang bảo tồn, vìn giữ và phát huy giá trị di sản van hoa này. Có lẽ để làm chủ sông Hương, làm chủ thiên nhiên cẩm tú của xứ Huế, chủ nhân của nó cần có một chiều sâu văn hóa đông phương và khả năng kỹ trị của phươngTây. Tôi chợt nhớ Ra Xun Ganzatop khi ông nhắc lại lời của dân tộc Avar: “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục, ương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác”. Mà hiện tại thì đang ở đâu đó giữa hai tầm súng, vì vậy gìn giữ sông Hương là gìn giữ một thứ gia tài lớn lao của Mẹ – và đó là trách nhiệm của một Lương Tâm Văn Hóa.


Ảnh bìa: LEN Journeys