Từ đầu xuân Kỷ Hợi (1839) triều đình Huế bắt đầu lập chương trình tổ chức đại lễ mừng sinh nhật lần thứ 50 và kỉ niệm 20 năm đăng quang của vua Minh Mạng (1820 – 1840) sắp đến. Nhà vua rất mãn nguyện khi thấy Nam Bắc ổn định, nước Đại Nam có uy thế lớn trong khu vực.

Một hôm bàn chuyện cũ, vua dụ bảo triều thần: Ta nhớ lúc còn là hoàng tử được tiên đế yêu thương ban cho “tiềm để”1 ở phường Đoan Hòa góc đông nam bên ngoài hoàng thành, xưa là trung tâm của đô thành Phú Xuân thời đúc Hiếu Võ Hoàng Đế2. Cuộc đất đó rất quý, nên xây dựng một ngôi chùa thờ Phật để tụ linh khí, phát phúc lâu dài.

Nguyên thủy, khu đất này được Võ vương Nguyễn Phúc Khoát, vị chúa thứ 8 của vương triều Nguyễn chọn làm trung tâm thủ phủ Phú Xuân (còn gọi là Chính dinh). Đến thời Gia Long, ông đã cho quy hoạch, mở rộng Kinh thành rộng rãi, đồ sộ như hiện nay, Chính dinh được ban làm chỗ ở cho Hoàng tử Đảm (vua Minh Mạng sau này). Sau khi Minh Mạng chuyển qua ở dinh Thanh Hoà, nơi này được dùng làm phủ đệ của Thiệu Hoá, em thứ 9 của Minh Mạng.

Tuân theo ý chỉ của vua, bộ Công thiết kế bản vẽ, bộ Binh tuyển chọn 500 quân lính đến làm chùa. Căn cứ tài liệu hiện còn được biết: Trên trục chính từ ngoài vào có cổng tam quan, qua một vườn cảnh đến lầu hộ pháp, ở giữa xây dựng Đại Hùng bửu điện, hai bên có hai tòa tả, hữu vu. Kế tiếp là điện Đại Bảo, phía trái trước điện có giếng “THANH PHƯƠNG” xây bằng đá Thanh Hóa, nước rất trong và ngọt. Bên cạnh làm cái đình lợp ngói, dựng bia đá ghi dấu thơm. Phía sau làm hai dãy tăng xá, trai đường. Chùa làm xong vua ban tên GIÁC HOÀNG, xếp vào hàng quốc tự (cùng với các chùa Diệu Đế, Thiên Mụ và Thánh Duyên), thỉnh hòa thượng Tánh Thiên Nhất Định3 (1784-1847, Tổ khai sơn chùa Từ Hiếu), giữ chức tăng cang, nắm giữ giềng mối đạo Phật. Các vị tăng ở chùa đều là những bậc danh tăng do vua thỉnh và sắc phong.

Bảng vẽ chùa Giác Hoàng 1845 – Ảnh: “Ngự đề Đồ Hội Thi Tập” thời vua Thiệu Trị

Quốc tự GIÁC HOÀNG tọa lạc ngay bên trong cửa Đông Nam (Thượng Tứ) kinh thành, trở thành danh thắng làm điểm quan chiêm cho nhân dân và sứ thần các nước mỗi khi có dịp đến kinh đô Huế. Là nơi thường tổ chức các nghi lễ Phật giáo chính thức của hoàng gia và triều đình.

Vua Thiệu Trị (1841-1847) xếp GIÁC HOÀNG đứng thứ 17 trong số 20 thắng cảnh nổi tiếng nhất của đất Thần Kinh. Vua làm thơ đề vịnh như sau: “GIÁC HOÀNG PHAN NGỮ” Giác Hoàng tự:

Đất nước trang nghiêm mở cửa thiền
Điềm lành chung đúc cõi trần riêng
Rạng ngời tướng tốt thường chiêm ngưỡng
Mầu nhiệm kinh vàng ý tưởng chuyên
Tâm, Phật miễn bàn người đắc đạo
Sắc, không dừng nghĩ lý đương nhiên
Tình thương rưới khắp sinh linh khổ
Trí tuệ sâu xa chiếu mọi miền

– Bản thơ của Trần Đình Sơn (Cố Đô Huế)
Cổng Tam Quan còn sót lại của chùa Giác Hoàng – Ảnh: manhhai

Tiếng kinh kệ, chuông mõ từ GIÁC HOÀNG vang vọng sớm chiều trong nội thành cho đến biến cố thất thủ kinh đô ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu (5/7/1885). Giặc Pháp chiếm đoạt chùa GIÁC HOÀNG làm trại đóng quân đến năm 1902 thì triệt phá hoàn toàn để xây công trình mới phục vụ cho công việc thống trị.

Sau khi chùa bị triệt giải, theo ý chỉ của Bà Từ Dũ (Bà cố của vua Thành Thái) các tượng thờ rước ra chùa DIỆU ĐẾ, cũng là một ngôi quốc tự tại kinh đô Huế. Đại hồng chung đưa vào cất trong võ thế. Đến thời Bảo Đại, Thượng thư NGUYỄN ĐÌNH HÒE tàu xin thỉnh ba pho tượng Phật tam thế lên thờ tại chùa VẠN PHƯỚC (Trường An – Huế). Riêng đại hồng chung sau năm 1945 không biết thất lạc về đâu.

Chính giữa khu đất xây tòa nhà hai tầng “cơ mật tân viện” làm chỗ hội họp của chính phủ Bảo hộ với Nam Triều. Từ trong nhìn ra, dãy nhà bên phải dùng làm văn phòng của các quan chức Pháp (hội Lý) bên cạnh bộ Hình, bộ Lại. Dãy nhà bên trái thiết lập Bảo tàng kinh tế. Nhân dân Huế gọi chung công trình mới này là Tam Tòa4. Và cái tên Tam Tòa “đóng đinh” trong nhiều người cho đến bây giờ dù công năng của cụm kiến trúc này liên tục thay đổi theo thời gian

Huế 1896-1900 – Viện Cơ Mật và bức bình phong phía trước – Ảnh: manhhai

Từ năm 1945 sau khi chế độ quân chủ do thực dân Pháp bảo hộ chấm dứt đến 1954, khu vực Tam Tòa không được sử dụng vào công việc gì quan trọng. Năm 1955 – 1975 chính quyền miền Nam biến “viện cơ mật” thành tòa án và hai dãy nhà thành văn phòng các cơ quan từ pháp địa phương.

Sau ngày đất nước thống nhất, Tam Tòa là trụ sở của Ủy ban Quân quản Trị Thiên-Huế sau đó thành trụ sở của tỉnh ủy tỉnh Bình Trị Thiên (1976 – 1989) rồi tỉnh ủy Thừa “Thiên-Huế (1989 – 2000). Hiện tại là Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế. (Số 23 – Tống Duy Tân – Tp. Huế).

Hiện di tích còn lưu lại có giếng Thanh Phương và cổng Tam quan là vết tích của chùa.

Cổng Tam quan trước Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế & Giếng Thanh Phương ngày nay – Ảnh: Hy Khả, Lưu Ly

Thực dân Pháp chiếm kinh đô, phá chùa GIÁC HOÀNG đến nay đã hơn 100 năm. Người dân Huế vẫn truyền nối nhau giữ gìn “GIÁC HOÀNG PHẠN NGỮ” trong tâm thức để hy vọng… Hy vọng một ngày nước nhà độc lập, thanh bình, có cơ hội tái tạo những giá trị truyền thống tốt đẹp của tổ tiên đã bị mai một trong thời gian nước mất. Bây giờ Huế đã trở thành di sản văn hóa thế giới, là niềm hãnh diện chung của nhân dân Việt Nam.

Trong quần thể di tích của kinh đô hoàn chỉnh thời kỳ nước Việt Nam độc lập, tự chủ có quốc tự GIÁC HOÀNG. Vậy GIÁC HOÀNG vì sao mất dấu để lòng người mãi mãi ngậm ngùi tiếc nhớ:

“Cỏ hoa đổi mới Tam Tòa,
Thành xưa còn đó đâu là chùa xưa?
Cuộc đời dù nắng dù mưa
Mùi hương chánh pháp gió đưa dịu dàng

Vô Danh

Chú Giải:

  1. Tiềm để: Chỉ chỗ ở của vua trước khi lên ngôi. Tiềm long: rồng đang ẩn giấu chỉ bậc vua chúa chưa lên ngôi, người tài đức đang ẩn dật. ↩︎
  2. Hiếu Võ hoàng đế: Tức Võ Vương Nguyễn Phước Hoạt (1714 – 1765) ông cố của vua Minh Mạng. ↩︎
  3. Hòa thượng Tánh Thiên Nhất Định (1784 – 1847): được phong Tăng cang chùa GIÁC HOÀNG từ năm 1839 đến năm 1843 ngài xin từ chức về lập am An Dưỡng ở Dương Xuân để ẩn tu Nay là tổ đình Từ Hiếu – Huế ↩︎
  4. GIÁC HOÀNG – Tam Tòa: Tọa lạc giữa bốn con đường Tông Duy Tân (nam), Đinh Công Tráng (Bắc), Lê Thánh Tôn (Đông), Đinh Tiên Hoàng (Tây). Hiện nay nằm trong phường Thuận Thành, thành phố Huế. Diện tích: 29.069 m2. Tài liệu tham khảo: – Đại Nam Thực lục chính biên: Đệ I kì – Đệ II kỉ. – Ngự đề danh thắng đồ hội thi tập. Thiệu Trị 1843. – Tam Tòa (Cơ Mật Viện) – Phan Thanh Hải (Tư liệu Phòng nghiên cứu TTBTDTCD HUE) ↩︎

Bài viết gốc: Trần Đình Sơn – Sách “Cố Đô Huế”.

Tài liệu tham khảo và bổ sung: “Chùa Giác Hoàng” trên Coviet.vn; Hy Khả – “Chuyện cũ Giác Hoàng” trên báo Thừa Thiên Huế Online; “Chùa Diệu Đế” trên Khamphahue
Biên tập & Thiết kế: Tubihu
Nguồn ảnh: manhhai, wikipedia