Có thể nói, không một con sông nào trên thế giới có vai trò quyết định đến sự hình thành diện mạo và linh hồn của một đô thị như sông Hương đối với Huế. Sông Hương, là lá phổi cho Huế tồn sinh, là “trái tim ta đó ngày đêm tự tình”, là cột sống mang vác cả vùng văn hóa, là sợi chỉ xâu kết những công trình di sản như một chuỗi ngọc, là dòng kẻ nhạc lặng lẽ chảy qua kinh thành rồi ngân lên giai điệu lạ lùng, quyến rũ… Sông Hương, không lọc mà trong vắt, không xa cách mà gần gũi, không cuồng nộ mà vỗ về, không lăng nhăng hết thành phố nọ đến thành phố kia mà chỉ chung tình với một… Sông Hương, nhạy cảm và sâu thẳm, thơ mộng và trữ tình, là báu vật tạo hóa ưu ái dành tặng con người. Sông Hương, là nhan sắc của Huế, là thần thái của một không gian tâm linh độc đáo không nơi nào có được.

Từ bao đời, sông Hương vẫn lặng lẽ mang sức sống tô bồi cho bài thơ đô thị Huế. Các vua quan nhà Nguyễn coi núi Ngự là “tiền án” và sông Hương là “minh đường”. Sông Hương là linh hồn của kinh đô Huế… Người Pháp, với nền tảng văn hóa thâm hậu, đã đối xử đúng mực với con sông: Các công trình mới chỉ được xây dựng phía bờ Nam, không cao quá ngọn cây, cách xa dòng sông – được phân định bởi một bãi công viên xanh ngát cỏ hoa… Đến thời người Mỹ, sông Hương bắt đầu cuộc hồng trần. Hai công trình tiêu biểu cho thời kỳ này là khách sạn Hương Giang và Cầu Mới. Khách sạn Hương Giang mà một phần nhoài ra, ngạo nghễ soi bóng trên mặt nước dòng Hương. Còn Cầu Mới thì dở dở dói bắc qua quãng sông đẹp nhất, nó như vết chém ngang khuôn mặt người đẹp, như mũi dao đâm thẳng vào hoàng cung… Sang thời chúng ta, thiếu cái tầm, thiếu cả cái tâm, chúng ta để sông Hương cho người đời mặc sức tùng xẻo: Hơn 20 năm trước, người ta cho xây kè đá sát mép nước từ cầu Gia Hội đến Cầu Mới. Công trình kệch cỡm ấy bị công luận lên án. Người ta chữa cháy bằng cách cho bạt đất từ kè đá ra phía dòng sông, tạo nên bờ cỏ mới. Từ đây, phù sa tiếp tục bồi lấp, có nơi đến hàng vài chục mét bề ngang. Hơn 5 năm trước, người ta lại cho xây kè đá trước công viên 3/2 (quãng sông này chưa bao giờ lở hoặc bồi). Kè đá cao nghệu đến mức người Huế không chịu được. Người ta lại sửa sai bằng cách cạo lớp đất đá hàng mét chiều cao đổ ra phía dòng sông, mở đầu cho đợt lấn chiếm mới: các chủ đò thi nhau đắp bến, “hồ con mắt” và phần nhoài ra phía dòng sông của khách sạn Hương Giang nay ẩn mình trong bãi đất có cây xanh bao bọc hẳn hoi. Rồi bờ sông phía sau khách sạn Century, chỉ mới một năm trở lại đây, cũng đã trở thành sân bãi đang đưa vào sử dụng. Không biết do nạn phá rừng và khai thác cát sạn phía thượng nguồn, hay do bị lấn chiếm phía hạ lưu mà hiện tượng phù sa bồi lấp dọc hai bờ diễn ra một cách chóng mặt. Trước năm 1975, phía sau trường Binh Linh và khách sạn Lê Lợi bây giờ là dòng sông, nay là cánh đồng lau sậy um tùm, dài hàng ngàn mét từ đầu sông An Cựu đến Bảo tàng Hồ Chí Minh, còn bề ngang thì có nơi rộng tới hàng trăm mét. Đoạn sông từ Đập Đá về nhà máy bia Huda, không bị phù sa bồi lấp thì nhà hàng, khách sạn, cư dân thi nhau lấn chiếm (báo Tuổi Trẻ nhiều lần lên tiếng)…

Các chuyên gia UNESCO thật tinh đời khi nhận ra vẻ độc đáo của sông Hương, vai trò của nó đối với không gian di sản Huế, và sự khẩn thiết phải bảo vệ con sông, nên đã đề nghị tỉnh Thừa Thiên – Huế lập hồ sơ để UNESCO công nhận sông Hương là di sản thế giới. Người Huế vui mừng vì đây là cơ hội nghìn vàng để tôn vinh vẻ đẹp vốn có của sông Hương, đây cũng là liệu pháp hữu hiệu để bảo vệ con sông. Do thế, người Huế đã bàng hoàng xiết bao khi nghe tin ông Chủ tịch tỉnh Thừa Thiên – Huế cho ngưng việc lập hồ sơ để được UNESCO công nhận sông Hương là di sản thiên nhiên của nhân loại. Vì sao? Vì “thới cơ chưa chín muỗi”, hay vì để chuẩn bị mặt bằng cho các công trình hiện đại sắp xây dựng, như: Khu khách sạn trên đồi Vọng Cảnh (thuộc đất “quan phòng” của lăng Tự Đức, bên bờ sông Hương, ở quãng sông trầm lắng nhất), khu khách sạn trên cồn Dã Viên và cồn Hến (ngay giữa trung tâm thành phố, vốn là hai vị trí “rồng chẩu hổ phục” của kinh đô Huế), Trung tâm thương mại (sát nách múi cầu Trường Tiền)…?

Một nhà văn đã giả định: Nếu có một biến động địa chất nào đó làm cho hai bờ sông Hương líp lại, sông Hương không còn nữa, liệu lúc ấy Huế có còn là Huế nữa không! Nay, nhiều người Huế buồn bã nói với nhau, với cái đà này, chỉ trong vòng 20 năm nữa thôi, chẳng cần một biến động địa chất nào thì sông Hương cũng sẽ không còn là sông Hương nữa!

Bài toán bảo tồn và phát triển.

Việc đặt hai khái niệm đó liên nhau và hiểu chúng theo hướng đối lập nhau khiến bài toán trở nên khó giải, đặc biệt đối với Huế: Đã bảo tồn thì làm sao mà phát triển, đã phát triển thì không thể bảo tồn. Đến nỗi một vị lãnh đạo tỉnh phải than: “Đụng đâu cũng di tích thì làm sao mà phát triển”.

Trên thế giới, người ta không xếp hai khái niệm ấy liền nhau một cách nghiệt ngã như vậy, và họ hiểu nó theo hướng tích cực: Rằng bảo tồn các di sản văn hóa là một cách phát triển kinh tế. Và muốn phát triển kinh tế, muốn thu hút du khách, muốn giàu, muốn mạnh thì phải biết giữ gìn nét văn hóa độc đáo của mình – không lai tạp, không học đòi, không đánh mất mình. Nếu cũng hiểu như thế, hẳn chúng ta sẽ thấy con đường phát triển kinh tế, ví dụ như Bình Dương, Đồng Nai, Quảng Ngãi… khác với con đường phát triển kinh tế của Huế. Và cách nghĩ cách làm của các nhà lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên – Huế phải khác với cách nghĩ cách làm của các địa phương kia. Trên thế giới, có nhiều thành phố nổi tiếng, giàu mạnh, thu hút du khách, đơn giản chỉ vì họ biết bảo vệ tốt di sản văn hóa của họ, Louxor của Ai Cập là một ví dụ. Thác Niagara được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên của nhân loại. Với “thương hiệu” ấy, mỗi năm Niagara có đến 18 triệu du khách, và thu về 1,84 tỉ đô la (năm 2004), góp phần giúp Ontario trở thành tỉnh bang giàu mạnh nhất Canada.

Thế kỷ XXI được dự báo là thế kỷ của tâm linh. Ngoài nhu cầu ăn chơi, nghỉ dưỡng như trước, hiện đang hình thành xu hướng thưởng ngoạn văn hóa và du lịch tâm linh. Thử hình dung, nếu sông Hương được phong là di sản thiên nhiên của nhân loại, cùng với không gian di sản vật thể và phi vật thể của Huế, với “thương hiệu” ấy, xem ra không chỉ Việt Nam mà ngay cả trên thế giới, khó có thành phố nào sánh kịp. Năm 1968, Michael Herr – một nhà báo Mỹ đến Huế, về Mỹ ông khẳng định: “Huế là thành phố đẹp nhất thế giới”. Ngày nay, nếu có dịp trở lại Huế, e rằng ông ta sẽ thay đổi quan điểm của mình, nhưng nếu chúng ta biết làm và làm một cách nghiêm túc thì vẫn có thể còn kịp để chúng ta xây dựng Huế thành một trong những thành phố đẹp, độc đáo, hấp dẫn và nổi tiếng của thế giới.

Thật ra, nói “Đụng đâu cũng di tích thì làm sao mà phát triển” là nói oan cho Huế. Huế là thành phố di sản, nhưng mật độ di tích không cao. Trừ sông Hương (đặc biệt từ cồn Hến trở lên mà KTS. Nguyễn Trọng Huấn gọi là “không gian dạo”), khu lăng tẩm phía Tây Nam, và hoàng thành, tất cả còn lại đều là “không gian đời”, mặc sức cho các nhà đầu tư xây dựng những công trình hiện đại, hấp dẫn – loại “Phố Đông” của Thượng Hải, hay “Phố Đông” (Thủ Thiêm) của TP. Hồ Chí Minh. Nhất là không gian từ cồn Hến về Thuận An, với đặc điểm biển, đầm phá, suối nước nóng… quá lý tưởng cho một thành phố hiện đại, du lịch, nghỉ dưỡng, ăn chơi, mua sắm… Suy cho cùng, không phải “đụng đâu cũng di tích”, mà chẳng qua vì cái não trạng của các nhà doanh nghiệp chỉ muốn lợi dụng di sản để dễ “hái ra tiền”.

Một khía cạnh khác không thể không cân nhắc: Người Huế có tình yêu đặc biệt đối với cảnh quan sông núi Huế. Tình yêu ấy theo mỗi người đi khắp nơi, đi suốt cả đời. Do vậy, một quyết định vội vàng nào đó làm biến dạng cảnh quan sông núi Huế sẽ là sự xúc phạm đến phần thiêng liêng nhất của tâm hồn người Huế. Mà mất mát ấy thì không cái giá nào trả nổi, bởi nó thuộc về phạm trù mất… lòng dân.

Thế đấy, bài toán trở nên đơn giản nếu hiểu bảo tồn và phát triển là hai khái niệm độc lập và không hề đối lập. Vấn đề là, phải xác định cái gì, ở đâu cần được bảo tồn, và cái gì, ở đâu cần được phát triển. Điều ấy liên quan đến một khía cạnh khác mang tính biện pháp, đó là quy hoạch, quyền hạn, và trách nhiệm.

Giải pháp nào cho Huế?

“Vấn đề của Huế”, từ lớn như đường lối phát triển, đến nhỏ như có nên xây dựng khách sạn trên đồi Vọng Cảnh hay trên cồn Dã Viên không?.. sẽ khó giải quyết nếu như không thống nhất các giải pháp sau:

1/ Cần có một quy hoạch tổng thể và chi tiết cho Huế: Ngày nay, với công nghệ hiện đại, những chuyên gia tầm cỡ thế giới, và kinh nghiệm của những thành phố di sản, việc hoàn thành một quy hoạch như thế không đòi hỏi công sức, thời gian và tiền của bao nhiêu. Trong thời gian chờ đợi, các dự án xây dựng, đặc biệt ở các khu vực nhạy cảm như đồi Vọng Cảnh, Cồn Dã Viên, hay mũi cầu Trường Tiền đều phải được đình chỉ.

2/ Trách nhiệm của Thủ tướng: Bởi vì Huế thuộc về di sản của thế giới, và sông Hương là “quốc gia chi bảo”, nên không thể giao phó hết trách nhiệm cho lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên – Huế theo hướng ưa làm chi thì làm, mà cần phải được thông qua Thủ tướng. Thủ tướng là người ra quyết định sau cùng, là người cao nhất chịu trách nhiệm với thế giới, với nhân dân, và với lịch sử.

3/ Tiếp tục lập hồ sơ sông Hương: Cần tiếp tục nỗ lực lập hồ sơ để được UNESCO công nhận sông Hương là di sản thiên nhiên của nhân loại.

4/ Vai trò của trí thức: Đội ngũ những nhà trí thức, khoa học, lịch sử, văn hóa, kiến trúc, giáo dục… của Huế vô cùng đông đảo. Họ là những chuyên gia vào hàng bậc thầy. Các dự án, đặc biệt với những dự án nhạy cảm liên quan đến văn hóa, di sản, tưởng rất nên tham khảo ý kiến của họ. Bằng cái tâm trân trọng và biết lắng nghe, hẳn sẽ rút ra từ sự hiểu biết và tâm huyết của họ những điều tốt lành thay vì chỉ thấy họ là những kẻ cản đường.


Trích từ Nguyễn Văn Dũng — “700 năm”.