Phan Thuận An
Ôi xứ Huế ngàn năm còn cố kính,
Nước sông Hương còn soi bóng giai nhân…
Kĩa núi Ngự sông Hương cùng lăng tẩm,
Vẫn âm thầm chờ đón các thi nhân…
Đó là bốn câu trong một bài thơ của Bích Lan cách đây hơn nửa thế kỷ khi thi sĩ cảm nhận về vẻ đẹp vốn có và muôn thuở của quê hương mình. Qua chỉ bốn câu thơ thôi, nhưng tác giả đã khái quát được cả ba yêu tố: thiên nhiên, kiến trúc và con người của vùng đất Cố đô, trong đó sông Hương được nhắc đến hai lần như là ấn tượng sâu sắc nhất.
Thật vậy, xưa nay, nói đến sông Hương là nói đến Huế, và khi nói đến Huế không thể không nói đến sông Hương. Con sông đã đi vào tâm thức của bao thế hệ dân chúng địa phương cũng như những người khác xứ từng đến lưu trú, làm việc hoặc thăm viếng nơi đây trong một thời đoạn của cuộc đời. Là một hình ảnh không thể nào quên, dòng nước sông Hương chảy mãi trong lòng họ.
Dòng nước sông Hương chảy lặng lờ,
Ngàn thông núi Ngự đứng như mơ.
Gió cầu vương áo nàng Tôn nữ,
Quai lỏng nghiêng vành chiếc nón thơ.
(Trích từ bài “Trong đôi mắt Huế” của Đông Hồ, 1930).
Mãi đến ngày nay, sông Hương và núi Ngự vẫn còn tồn tại bên nhau như một cặp tình nhân muôn thưở. Cách đây chưa lâu, nhà thơ Bùi Giáng “nói”:
Dạ thưa xứ Huế bây giờ,
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương.
Điểm qua một số dòng thơ như thế để chúng ta thấy sự tác động mạnh mẽ của dòng sông vào tâm hồn các thi nhân. Dòng sông là những dòng thơ.
Nhưng, trên đây chỉ mới là một khía cạnh của vấn đề, vì ngoài giá trị là một nguồn thơ, sông Hương còn có những giá trị khác nữa trong cuộc sống của người dân xứ Huế. Đó là các giá trị liên quan đến lịch sử, văn hóa, kiến trúc, giao thông vận tải, kinh tế xã hội, cảnh quan môi trường, tham quan du lịch v.v…
Dưới đây, chúng tôi sẽ lần lượt đề cập đến một số trong các giá trị đó. Nhưng, trước hết, chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa của địa danh sông Hương.
Mỗi địa danh hoặc một danh nhân trên thế giới đều hàm chứa một ý nghĩa riêng của nó. Sông Hương cũng vậy.
Lúc sinh thời, khi viết bài “Sông Hương tên ấy có tự bao giờ” đăng ở tạp chí Sông Hương vào năm 1983, cụ Nguyễn Hữu Đính đã tìm cách trả lời cho câu hỏi “Ai đã đặt tên cho dòng sông” mà nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nêu ra vào năm 1981. Nay xin dựa theo hướng tìm hiểu của người quá vãng để trả lời cho câu hỏi một cách vắn gọn.
Theo các sách cổ, trước khi mang tên Hương Giang, con sông này đã từng có những tên khác.
Trong quyển “Dư địa chí” do Nguyễn Trãi viết vào năm 1435, ông gọi đó là sông Linh.
Trong sách “Ô châu cận lục” do Dương Văn An nhuận sắc vào năm 1555 ông gọi đó là sông cái Kim Trà (Kim Trà đại giang).
Trong sách “Phủ biên tạp lục” do Lê Quý Đôn viết vào năm 1776 ông gọi đó là sông Hương Trà (Hương Trà nguyên).
Từ năm 1469 dưới thời Lê Thánh Tông, Kim Trà là tên của một huyện ở phủ Triệu Phong thuộc Thừa tuyên Thuận Hóa.
Đến khi Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa vào năm 1558, huyện Kim Trà được đổi tên là Hương Trà.
Xưa nay, người ta thường gọi tên một con sông bằng tên của vùng đất mà nó chảy qua. Vào các thời kỳ lịch sử nói trên, khi vùng đất ấy còn mang tên là huyện Kim Trà thì con sông chúng ta đang nói đến được gọi là sông Kim Trà. Sau đó, khi tên huyện đổi thành Hương Trà thì tên con sông cũng đổi theo: sông Hương Trà. Từ sông Hương Trà đến sông Hương chỉ còn một bước, vì trong ngôn ngữ, bất cứ ngôn ngữ nước nào, dân gian thường hay rút gọn. Và chăng, hai chữ sông Hương đẹp quá, giới văn chương, trí thức cũng không muốn gì hơn.
Ngoài các bộ địa chí và sử sách vừa nêu, còn có một tư liệu lịch sử khả tín khác nữa cần được trích dẫn để bổ sung và củng cố thêm cho lập luận địa danh sông Hương chính là do địa danh huyện Hương Trà và sông Hương Trà mà ra. Từ liệu ấy là “Đại Nam thực lục”, một bộ sử lớn của triều Nguyễn. Ở phần “đệ nhất kỷ” nói về thời Gia Long được biên soạn từ năm 1821 và khắc in vào năm 1848, Quốc sử quán triều Nguyễn đã viết rằng: Vào ngày Bính Thân tháng 7 năm Tân Dậu, tức là tháng 8-1801, “vua đi Quảng Bình… Thuyền ngự khởi hành từ sông Hương (sông Hương tức là sông Hương Trà..)”.
Như vậy, căn cứ vào các tư liệu thành văn dẫn thượng, chúng ta có thể khẳng định rằng cái tên sông Hương là do địa danh Hương Trà được rút gọn lại từ khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.
Khi đúc bộ Cửu đỉnh bằng đồng vào năm 1836, vua Minh Mạng đã cho đúc nổi hình ảnh con sông ấy trên Nhân đỉnh và ngay tại đó có khắc rõ hai chữ Hán “Hương giang” mà mãi đến ngày nay, chúng ta còn có thể thấy được một cách cụ thể ở trước sân Thế Miêu trong Hoàng thành Huế.
Về ý nghĩa của dòng sông mang tên Hương, có lẽ chúng ta cũng cần biết đến vài cách lý giải của một số văn nhân thi sĩ trước đây.
Trước hết là cách cắt nghĩa của cụ Vân Bình Tôn Thất Lương qua bài thơ “Hương Giang hành” do cụ làm vào năm 1941; ở đây chỉ xin trích câu đầu có nội dung liên quan đến “sông thơm” (Hương giang):
Cỏ thơm có giống thạch – xương – bồ,
Sanh ở hai nguồn Tả Hữu trạch;
Hơi thơm dầm nước, nước trong veo,
Hợp thành sông thơm chảy róc rách.
Sau đó khoảng 15 năm, khi đăng bài “Hương Giang hành” vào trong một quyển sách do mình biên soạn, tác giả Thái Văn Kiểm đã viết lời dẫn cho bài thơ ấy; trong đó có một đoạn ông tỏ rõ sự đồng tình với nhà thơ Hoàng tộc:
“Hai bên bờ tả, hữu trạch (của sông Hương) có giống “Thạch xương bồ” là một vị thuốc trường sinh, có mùi thơm, mọc hai bên bờ khe, nước khe lần hóa thơm. Hương giang (sông thơm) bởi đó mà có danh vậy”.
Đến năm 1981, khi viết bài bút ký “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đưa ra ý kiến:
“Có nhiều cách trả lời cho câu hỏi ấy; trong đó, tôi thích nhất một huyền thoại kể rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người ở hai bờ đã nấu nước trăm loài hoa đổ xuống lòng sông, để làn nước thơm tho mãi mãi”.
Đó chỉ là cách cắt nghĩa chữ Hương qua tâm hồn lãng mạn và sự rung cảm nhiệt thành của các nhà thơ nhà văn trước vẻ đẹp trữ tình và huyền diệu của dòng sông. Tất nhiên, xét về mặt khoa học, những cách lý giải ấy đều không có sức thuyết phục bằng lập luận nêu trên.
Dù sao đi nữa, sông Hương cũng đã là một nhân tố quyết định trong việc thiết lập đô thị Huế. Sông nước là huyết mạch của cuộc sống con người và là một phương tiện để phát triển kinh tế – xã hội cũng như văn hóa – văn minh. Trên thế giới, hầu hết các đô thị đều đã được thiết lập bên những dòng sông hoặc ở hai bờ của chúng. Đô thị Huế cũng nằm trong quy hoạch chung đó.
Trong quá trình hình thành và phát triển của đô thị này, sông Hương đã đóng một vai trò rất quan trọng, xét về mặt lý thuyết cũng như trên thực tế. Ngay trong thời tiền Đại Việt, vào khoảng thế kỷ V – VI, người Chăm đã xây dựng thành Lồi bên bờ nam sông Hương, ở địa bàn Long Thọ – Nguyệt Biêu ngày nay, và họ cũng đã thiết lập một trung tâm hành chính tại Ngã ba Sình (nơi sông Bồ gặp sông Hương) mà sau đó, từ năm 1307, người Việt kế thừa chức năng cũ của nó với tên gọi mới là thành Hóa Châu.
Đến thời các chúa Nguyễn, vào năm 1636, Kim Long, một địa bàn ở bờ bắc sông Hương (nằm tại phía đối ngạn với thành Lồi xưa) đã được chúa Nguyễn Phúc Lan lựa chọn để xây dựng Thủ phủ. Trường hợp Thủ phủ Phú Xuân cũng vậy, khi chúa Nguyễn Phúc Thái cho dời Thủ phủ vào năm 1687, ông cũng đã chọn một vị trí khác ở bờ bắc của dòng sông ấy. Chính vào các giai đoạn lịch sử này, kể từ thế kỷ XVII, khu vực phố – cảng Thanh Hà đã được thiết lập tại một địa điểm ở hạ lưu sông Hương để làm một trung tâm thương mại nội địa và quốc tế của Đàng Trong.
Vào đầu thế kỷ XIX, khi đất nước thống nhất sau gần 300 năm nội chiến, vua Gia Long, vị vua đầu triều Nguyễn, cũng đã thiết lập Kinh đô của cả nước tại bồn địa trung lưu sông Hương, mà trung tâm vẫn là làng Phú Xuân thuở trước. Tất nhiên, quy mô xây dựng tạo nên diện mạo kiến trúc đô thị Huế lần này to lớn hơn rất nhiều so với Thủ phủ Phú Xuân vào năm 1687, rồi Đô thành Phú Xuân vào năm 1754.
Khi quy hoạch trong ngót ba năm từ 1802 đến 1804 để xây dựng Kinh đô mới, các nhà kiến trúc triều Nguyễn đã tuân thủ Dịch lý và nhất là thuật Phong thủy một cách triệt để và linh động. Ngay từ đầu tháng 4 – 1802, chính vua Gia Long cùng các triều thần đã dùng thuyền rồng đi khảo sát hình thế núi sông xứ Huế để quy hoạch mặt bằng Kinh đô. Và họ đã vận dụng hình sông thế núi ở cả một vùng đất rộng lớn thuộc địa bàn mà sông Hương chảy qua để đưa chúng vào trong bố cục Phong thủy của tổng thể công trình.
Các thực thể địa lý có sẵn tại chỗ, như sông Hương, núi Ngự, cồn Hến, cồn Dã Viên v.v… đều đã được hình tượng hóa, siêu nhiên hóa bằng cách gắn vào cho chúng những chức năng tâm linh, thổi vào cho chúng những linh hồn và tạo ra cho chúng những thần thái Phong thủy trong kiến trúc.
Trong chủ đề tư tưởng quy hoạch mang tính triết lý phương Đông và truyền thống Việt Nam ấy, trục chính của kiến trúc Kinh đô nói chung, của Kinh thành nói riêng, vẫn quay mặt về phía nam như nguyên tắc mà Dịch lý đã quy định (Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ, hướng minh nhi trị: vua quay mặt về phía nam để cai trị thiên hạ, hướng về lẽ sáng để làm việc nước). Tuân theo những nguyên tắc của thuật Phong thủy, các nhà quy hoạch đầu thế kỷ XIX đã dùng núi Ngự Bình làm bình phong (tiền án) và sông Hương làm “minh đường”. Minh đường là một thuật ngữ của Phong thủy học dùng để chỉ yếu tố mặt nước bắt buộc phải có ở trước mặt mọi công trình kiến trúc dù lớn dù nhỏ. Từ ngàn xưa, các thành trì cung điện, đình chùa miếu vũ và nhà cửa dân chúng đều có yếu tố mặt nước như vậy, có thể tự nhiên như sông ngòi, khe suối, có thể nhân tạo như cái bể cạn, hồ bán nguyệt v.v…
Các nhà quy hoạch Kinh đô Huế đã lợi dụng sông Hương để đáp ứng cho yêu cầu tất yếu này của thuật Phong thủy. Hơn nữa, có một điều thật tự nhiên nhưng rất kỳ diệu là trên sông Hương còn có sẵn hai hòn đảo nhỏ nằm rất cân đối ở hai bên mặt trước Kinh thành. Người Huế gọi đó là cồn Hến và cồn Dã Viên. Hai hòn đảo này đều đã được tạo thành bằng phù sa bồi lắng của dòng nước sông Hương và đều có dạng hình thoi, nhưng dài ngắn khác nhau. Cồn Hến dài 1.660 mét, rộng 237 mét và cồn Dã Viên dài 890 mét, rộng 185 mét. Trong con mắt của các nhà Phong thủy bấy giờ, hai thực thế địa lý tự nhiên này trông giống như con rồng với hình dạng nằm dài ở bên trái và con cọp với hình dạng ngắn hơn nằm ở bên phải Kinh thành, và họ đã tận dụng chúng và đưa cả hai vào trong quy hoạch mặt bằng tổng thể kiến trúc của mình với vai trò Phong thủy là rồng chầu hổ phục hoặc tả long hữu hổ, châu vào trọng địa của Kinh đô để bảo vệ cho đế quyền, hoàng gia và triều đình.
Sự vận dụng các thực thể địa lý tự nhiên một cách linh hoạt và thích hợp ấy đã được vua chúa triều Nguyễn nói rõ trong khá nhiều thơ văn của họ, chẳng hạn như bốn câu sau đây được trang trí ở điện Thái Hòa xây dựng vào năm 1805:
Bình sơn đoan ngự án,
Hà thủy tịch minh đường.
Long hổ trùng trùng củng,
Nguy hoàng trạch đế vương.
Tạm dịch:
Núi Ngự làm tiền án,
Sông Hương mở minh đường.
Rồng chầu và hổ phục,
Ổn cố đất đế vương.
Chính các sử quan của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng đã xác nhận trong các bộ địa chí của mình rằng Kinh đô Huế là nơi có “sông lớn (tức sông Hương Giang) giăng phía trước, núi cao giữ phía sau, rồng cuốn hổ ngồi, hình thế vũng chãi…”.
Mặc dù tư tưởng triết lý quy hoạch theo Dịch lý và thuật Phong thủy như thế được đánh giá là mê tín hay khoa học, chúng ta cũng có thể nhận ra được một hệ quả tốt đẹp của nó là các tác giả của kiến trúc Kinh đô Huế đã tạo dụng ở bên bờ sông Hương một đô thị có non xanh nước biếc, vừa uy nghi cổ kính, vừa thơ mộng hữu tình. Nếu hiểu Phong thủy là một thái độ ứng xử có văn hóa của con người đối với thiên nhiên qua kiến trúc, hoặc “Phong thủy là một hệ thống đánh giá cảnh quan nhằm tìm một địa điểm tốt lành cho công trình”, thì những người thiết lập đô thị Huế đã tạo ra được một sự kết hợp nhuần nhuyễn và hài hòa giữa kiến trúc và thiên nhiên. Đó là phong cách kiến trúc ưu việt mà giới kiến trúc sư trên thế giới ngày nay gọi là “kiến trúc cảnh quan” (landscape architecture; architecture paysagée).
Riêng sông Hương đã được vua Thiệu Trị xem là một trong 20 thắng cảnh của Kinh đô, gọi chung là “Thần kinh nhị thập cảnh”. Nhà vua đã làm bài thơ “Hương giang hiểu phiếm” (Thả thuyền sáng sớm trên sông Hương) để ca ngợi dòng nước trong xanh êm đềm và vẻ đẹp mơ màng huyền diệu khó tả hết được của nó. Bài thơ nổi tiếng ấy đã được khắc vào bia đá và dựng tại một vị trí ở gần Phu Văn Lâu bên bờ bắc sông Hương ngay từ năm 1843 mà mãi đến ngày nay chúng ta vẫn còn có thể đọc được tại chỗ.
Cũng cần biết thêm rằng trong số 20 thắng cảnh của đất Thần Kinh, đã có ít nhất là 7 thắng cảnh liên quan đến sông Hương. Đó là:
- Hương giang hiểu phiếm: cảnh sông Hương.
- Trạch nguyên tao lộc: cảnh đầu nguồn Tả, Hữu trạch.
- Huỳnh tự như thanh: cảnh trường Quốc Tử Giám bên bờ bắc sông Hương.
- Thiên Mụ chung thanh: cảnh chùa Thiên Mụ bên bờ sông Hương.
- Thuận hải quy phàm: cảnh cửa biển Thuận An, nơi sông Hương đổ ra biển.
- Vân sơn thắng tích: cảnh núi Thúy Vân bên bờ phía Tam Giang.
- Hải nhi quan ngư: cảnh phía Hà Trung gần cửa biển Tư Hiền.
Vào khoảng năm 1870, trong một đêm trăng, ra ở lại chơi tại khu vườn ngự của mình ở cồn Dã Viên trên sông Hương, vua Tự Đức đã cảm thụ được vẻ đẹp thanh khiết thoát tục của con sông khi đi dạo thuyền và đã ghi lại cảm xúc của mình trong một bài ký:
… Lúc đêm vắng canh dài, trăng sáng không trung, lướt thuyền trên bóng sông ngân, nhấp nhô theo sóng nước. Tiếng hát dân chài vang vọng từ bến xa, khéo hòa nhập với tiếng chuông chùa và tiếng tụng niệm nghe văng vẳng. Những âm khí thoát trần đó, càng cảm thấy thanh tĩnh, vui không thể tả được. Rồi sợ sương thấm ướt áo, buộc thuyền bên khóm tre, bấy giờ bóng trăng còn chưa xế.
Trong thời gian xây dựng Khu phố Tây (Quartier Européen) ở bờ nam sông Hương từ những thập niên cuối thế kỷ XIX đến những thập niên đầu thế kỷ XX, chính người Pháp cũng đã rất tôn trọng vẻ đẹp tự nhiên của con sông. Chẳng những họ không xây nhà cao tầng áp sát theo bờ dòng nước trong xanh, mà còn tạo một không gian chuyển tiếp từ mép nước đến đường Jules Ferry (nay là đường Lê Lợi) bằng cách thiết lập một dải hoa viên xinh xắn với những thảm cỏ xanh, và trồng hai dãy cây đại thụ ở hai lề con đường ấy, vừa để tạo ra bóng mát cho con đường, vừa để che khuất màu vôi hồng sáng của những công trình kiến trúc hiện đại nằm ở sau lề phía nam của con đường. Đặc biệt là khi xây dựng cầu Trường Tiền vào những năm 1897-1899, họ đã thiết kế cây cầu 6 vòm 12 nhịp với dáng dấp mềm mại, uyển chuyển và thanh tú, rất phù hợp với dòng chảy êm đềm lờ lững của con sông.
Kể từ đó, hình ảnh cầu Trường Tiền in bóng trên mặt nước phẳng lặng của sông Hương trở thành một trong những biểu tượng nên thơ của xứ Huế.
Từ đất Bắc vô thăm Huế lần đầu tiên vào năm 1918, nhà báo Phạm Quỳnh của Tạp chí Nam Phong đã nhận định một cách sâu sắc và khách quan về giá trị thẩm mỹ và vai trò của sông Hương ở đất Thần Kinh:
“Người khách mới đến thành Huế tưởng như bước chân vào bức tranh cảnh: chung quanh núi, giữa con sông, nhà cửa tụ họp hai bên bờ, trên bến dưới thuyền, trông xa một tòa thành cổ bao la, thâm nghiêm kín cổng. Cái phong cảnh Huế sở dĩ đẹp là thứ nhất bởi con sông Hương Giang. Con sông xinh thay! Hà Nội cũng có sông Nhị Hà, mà sông Nhị với sông Hương khác nhau biết chừng nào! Một đằng ví như cô gái tươi cười, một đằng ví như bà lão già cay nghiệt. Nhị Hà là cái thiên tai của xứ Bắc, Hương Giang là cái châu báu của xứ Kinh. Nước trong như vắt, dòng phẳng như tờ, ít khi có tí sóng gợn trên mặt, đi thuyền trên sông như đi trong hồ vậy. Huế không có con sông Hương thì tưởng như cái đẹp của xứ Huế giảm mất nửa phần”.
Mặc dù bài báo “Mười ngày ở Huế” của học giả Phạm Quỳnh đã được đăng tải cách đây gần một thế kỷ, nhưng những nhận định chính xác về sông Hương như vừa nêu mãi đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.
Gần đây, vào năm 2003, một kiến trúc sư cảnh quan người Pháp là ông Francois Xavier Mousquet đã đến Huế để khảo cứu tình hình quy hoạch đô thị trong khuôn khổ chương trình hợp tác, trao đổi văn hóa do UNESCO tổ chức giữa thành phố Lille (vùng Nord Pas de Calais) và Huế. Trong tập báo cáo của ông, có một đoạn KTS F.X. Mousquet cho rằng yếu tố đặc trưng của đô thị Huế là nước mà quan trọng nhất là sông Hương. Ông viết:
“Dòng sông Hương không hề cắt đôi thành phố Huế mà ngược lại nó như được ôm vào giữa lòng thành phố… Tính linh động của nước tạo nên những không gian ở thật kỳ lạ… Nước len lỏi trong thành phố bảo đảm cho sự tạo thành những không gian đóng – mở phong phú, đồng thời đây cũng còn là lá phổi của thành phố và thực sự là nền tảng cơ bản của việc tổ chức quy hoạch thành phố”.
Và gần đây nhất, vào đầu năm 2005, trong chiều hướng đánh giá về sự quý bầu và vai trò cực kỳ đặc biệt của sông Hương đối với diện mạo kiến trúc cảnh quan của đô thị Huế, GS. TS. KTS. Hoàng Đạo Kính đã viết rằng:
“Về phương diện tài nguyên thiên nhiên và tạo cảnh, sông Hương có vai trò vô cùng to lớn, nó định đoạt tính chất, diện mạo và sự chuyển hóa không gian đô thị, nó mang lại sắc và hồn cho thành phố, tạo nên tính duy nhất cho nó. Rất ít, có thể là không có trên đời này một đô thị nào khác mà có một dòng sông, rộng và êm, chảy giữa, mà không biến thành thủy – đại lộ kè bờ, đai gòng cả hai bờ bằng đá hoặc bê tông. Chảy thung dung giữa Kinh thành mà vẫn hô hấp nhẹ nhàng, mà hai triền sông vẫn cỏ cây mọc tự nhiên!”
Ngoài những giá trị nêu trên đối với phần “đô” của Huế, sông Hương còn đóng một vai trò quan trọng trong phần “thị” của chốn Thần Kinh. Từ xưa cho đến cuối thế kỷ XIX, sự giao thông đi lại và chuyển tải hàng hóa ở Huế đều chủ yếu là bằng đường thủy, mãi đến đầu thế kỷ XX mới xuất hiện các phương tiện giao thông vận tải tân tiến hiện đại như tàu hỏa, ô tô, máy bay. Sông Hương cùng các phụ lưu và chi lưu của nó đã tạo ra được một hệ thống thủy lộ chằng chịt từ Thành Nội đến ngoại ô, từ rừng đến biển. Như một quy luật, muốn phát triển kinh tế xã hội thì phải thiết lập các trung tâm thương mại để mua bán trao đổi hàng hóa, và thuận lợi nhất là những trung tâm đó phải được thiết lập ở ven sông. Mà con sông chính (sông cai) ở Huế là sông Hương với hai cửa khẩu của nó là Thuận An và Tư Hiền mở lối thông thương cho các tàu thuyền buôn bán hàng hóa nội địa và quốc tế. Do đó, một loạt khu thương mại đã được hình thành một cách tự nhiên ở tả ngạn sông Hương nằm về mé đông bắc ngoài Kinh thành. Trước hết là phố – cảng Thanh Hà (thế kỷ XVII-XVIII), sau đó dời lên giang cảng Bao Vinh (thế kỷ XVI-XIX), rồi chợ Dinh, chợ Được (thế kỷ XIX), chợ Đông Ba (phát triển mạnh từ đầu thế kỷ XX cho đến nay). Tất cả các “phố thị” ấy đều nằm sát mép nước sông Hương cho thương thuyền ngoại quốc, ghe tàu trong nước và đò noốc địa phương dễ cập bến.
Như vậy, thiên nhiên xứ Huế nói chung, sông Hương nói riêng là món quả vô giá mà tạo hóa đã ban tặng cho con người. Vẻ đẹp thơ mộng hữu tình của con sông cùng các thắng cảnh tự nhiên khác ở trên lưu vực của nó chính là nhân tố quyết định đối với sự thiết lập và thăng hoa của đô thị Huế. Dòng chảy êm đềm của sông Hương đã lắng đọng nhiều lớp trầm tích lịch sử, văn hóa và nghệ thuật từ thời tiền Đại Việt cho đến ngày nay.
Con sông dùng dằng con sông không chảy.
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu.
(Trích từ bài “Tạm biệt Huế” của Thu Bồn).
Ngoại cảnh thiên nhiên tác động vào nội tâm con người. Môi trường xinh tươi và trầm lặng của dòng sông đã ảnh hưởng đến tâm hồn và trí tuệ của cộng đồng cư dân sinh sống ngay bên cạnh nó. Trái tim ai cũng rung cảm khi đứng trước phong cảnh sơn kỳ thủy tú. Sông Hương trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho mặc khách tao nhân. Nó là xuất xứ của những điệu nhạc trữ tình, là nơi gợi mở những dòng thơ lai láng.
Khi đến thăm Huế vào năm 1981, Ông Tổng giám đốc UNESCO bấy giờ là Amadou – Mahtar – M’Bow đã từng đánh giá rằng: “Có sông Hương ru vỗ du dương… thành phố Huế là một kiệt tác về thơ kiến trúc đô thị (un chef-d’œuvre de poésie urbaine; a masterpiece of urban poetry)… Chính tại thành phố này, nơi mà những người dân đều nổi tiếng là bẩm sinh có một hồn thơ lai láng, nhạc cổ điển cũng như nhạc dân gian đã được phát triển…” (Trích Lời kêu gọi).
Với các giá trị văn hóa nghệ thuật và kinh tế xã hội nêu trên, sông Hương là một dòng sông đa tình và đa chức năng. Chẳng những thế, nó còn là một con sông đầy tiềm năng trong công cuộc phát triển du lịch của địa phương. Có người đã nói một cách ẩn dụ bằng hình tượng rằng nền kinh tế xứ Huế có thể đi lên bằng chiếc thuyền rồng trên sông Hương. Tất nhiên, muốn được như thế, chúng ta phải bảo vệ diện mạo vốn có của con sông huyền diệu này.
Trích từ Tập San Nhớ Huế Tập 29, Chuyên Đề “700 Năm Huế”.
