Nguyễn Xuân Hoàng
Hơn mười lăm năm ở Huế, cũng không nhớ hết số lần đã đi thuyền trên sông Hương. Nhưng lần nào cũng vậy, cứ chuẩn bị đi là thấy lòng khấp khởi, cứ như là được đi lần đầu, và sẽ được thấy bao nhiêu điều mới lạ. Sông Hương như một pho sách lớn nhiều tập mở ra những chiều sâu mới về thiên nhiên, lịch sử và con người.
Tám giờ, chúng tôi có mặt ở bến Tòa Khâm. Gió lồng lộng. Nắng đầu hè nóng bức. Nước sông Hương xanh ngắt, và có cảm giác cái màu xanh ấy cứ lan ra, rộng mãi đến tận cồn Vỹ Dạ xanh mướt những bóng tre. Bến Tòa Khâm đông nghịt thuyền và người. Cái bến dài chưa đến một trăm mét ấy đầy ắp thuyền, hàng trăm chiếc đậu san sát. Nhìn xa xa chỉ thấy những cái đầu rồng nhiều kích cỡ, cổ vươn dài như muốn bay lên trời cao. Cái tên bến Tòa Khâm đã hay, nó lưu lại dấu ấn lịch sử của một thời, riêng mình, tôi thích gọi bến Tòa Khâm là bến Rồng, vì không ở đâu mà rồng nhiều như vậy. Nhiều cậu bé đi du lịch cùng với cha mẹ, lần đầu tiên đã thấy rồng ở bến Tòa Khâm. Chúng tôi xuống chiếc thuyền rồng TTH 0059. Lái thuyền là một người đàn ông vạm vỡ, khuôn mặt rám nắng gió. Anh tên là Nguyễn Văn Phụ. Thuyền rời bến Tòa Khâm, bờ bãi xa dần, và sông Hương mở ra những góc nhìn rất lạ. Cũng là Phu Văn Lâu, cột cờ, bến Thương Bạc, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Trung tâm học liệu… nhưng nhìn từ giữa lòng sông Hương những công trình ấy có một vẻ đẹp khác. Nó hiện ra trọn vẹn hơn trong một góc nhìn rộng toàn cảnh hài hòa cuộc hành trình ngược lên xa hơn đến giữa những vòm cây xanh, các công trình và sinh hoạt của con người có cảm tưởng như các công trình đã rủ nhau cùng về đây để làm đẹp cảnh quan đôi bờ.
Qua cầu Trường Tiền, cầu Phú Xuân, cầu Bạch Hổ, thuyền đến cồn Dã Viên, bắt đầu với những bóng tre mồ côi, làng mạc và bến bãi phù sa tự nhiên. Xa trung tâm thành phố Huế chưa đầy một cây số đã thấy những triền bắp trổ đầy hoa ven sông. Miệt vườn Kim Long xanh mát những khu vườn đầy cây trái. Cũng ở nơi này giai nhân xứ Huế xuống thuyền kết duyên cùng với các bậc kỳ tài. Tôi căng mắt tìm vườn An Hiên nổi tiếng và nhận ra dưới ánh nắng buổi sáng chiếc cổng cổ rêu phong nhỏ như đôi vòng tay, đổ tràn phía sau là bóng những cây giáng châu lá xanh đậm lấp ánh sáng. Từ sau khi được trùng tu, tháp Phước Duyên – chùa Thiên Mụ có vẻ uy nghi hơn. Cao là vậy, nhưng tòa tháp cổ vẫn rất gần với cuộc đời. Hai trụ biểu cân xứng tôn chiều cao của tháp. Ở nơi này, sông Hương cong nhẹ mình để bắt đầu một tận thượng nguồn. Đã thấy thấp thoáng làng Nguyệt Biều xanh xanh những rặng tre mồ côi Lương Quán. Giác này, thanh trà Nguyệt Biều đã kết trái, đợi đến hạ chí để chín đều và thương lái sẽ mang thanh trà đi khắp mọi miền đất nước. Thuyền đi ngang bến ông Đốc Phước, một cái bến đẹp nằm trên xóm Vạn. Lâu lắm rồi mới thấy mấy cậu bé tắm sông. Cách tắm của tuổi thơ thật nghịch ngợm, phao bơi là thân cây chuối xứ chặt lấy đoạn giữa, tay ôm thân chuối, chân làm mái chèo, cứ thế bơi thỏa thích. Mệt thì ôm cây chuối để mặc nước cuốn trôi, lơ mơ ngắm bầu trời cao mọc đầy mây trắng.
Gần trưa, thuyền đã đến chợ Tuần. Chủ thuyền Nguyễn Văn Phụ cho thuyền cập bến. Chợ đã vãn, chỉ còn lác đác mấy gánh hàng ăn và rau trái. Những mái lều lợp tranh lụp xụp, che chắn bằng nhiều thứ vật liệu pha tạp gợi lên vẻ nghèo khó của một phiên chợ quê dân dã. Chợ Tuần vui nhất vào dịp cận tết và đẹp nhất vào mùa đông, một cái đẹp u buồn thật khó quên. Chợ Hương cong nhẹ mình để bắt đầu một như chìm trong màn mưa lâm thâm. Những mái rạ tím vắt lại. Dưới làn mưa bụi lay phay từ sông Hương đổ về, những con đò ngang chìm khuất trong màu xám mù. Trưa vắng. Vẫn còn thấy một mẹ già bỏm bẻm nhai trầu, ngồi bán trầu cau. Cái dáng ngồi như tạc vào phiên chợ của mẹ gợi lên một điều gì đó khôn tả. Gió từ ngã ba Tuần thổi lồng lộng qua những túp lều chợ hoang vắng. Và mẹ ngồi như một người vô sự trước thời gian vô thủy vô chung.
Rời chợ Tuần, chúng tôi đi ngược dòng Hương. Con thuyền lọt thỏm vào ngã ba mênh mông, nơi hai dòng Hữu và Tả trạch hội ngộ với nhau. Cuộc gặp gỡ ấy đã làm cho lòng sông Hương nơi này mở rộng ra như một chiếc áo choàng lớn màu xanh đậm. Nắng ban trưa tràn ngập bầu trời. Từ góc nhìn trung tâm ngã ba sông, cầu Tuần cao vút như bắc ngang qua bầu trời, hùng vĩ và mạnh mẽ. Thuyền đi vào lòng Tả Trạch sông Hương ở đoạn này bắt đầu nhỏ lại. Hai bờ rất nhiều tre xanh. Bóng tre buông xuống mặt nước, tạo ra những khoảng tối sẫm dịu dàng. Đúng ngọ, thuyền cập bến đò Kim Ngọc. Từ đây phải đi bộ hơn hai cây số nữa mới đến lăng Gia Long. Chúng tôi đi dưới bóng những hàng tre. Trời nóng và rất nhiều chim. Đâu đó trong một rặng mưng già, tiếng con chim cuốc kêu khan vang vọng cả một vùng sông vắng. Lăng Gia Long nằm giữa vùng đồi Thiên Thọ, vì vậy mà còn có tên là Thiên Thọ lăng. Gần hai trăm năm, hệ thống lăng tẩm đã xuống cấp nghiêm trọng. Nhưng trong đổ nát vẫn còn thấy sự hoành tráng, uy nghi. Lăng mộ vua Gia Long và hoàng hậu nằm bên nhau cùng hướng về đỉnh núi Thiên Thọ. Những cây thông bước vào mùa hạ với màu áo vàng dưới chân ngai che chở cho sự yên nghỉ ngàn thu của vị vua sáng lập triều Nguyễn.
Mệt lử: Người khô, chúng tôi lội bộ ngược ra bến đò Kim Ngọc. Bữa cơm trưa đã được dọn sẵn dưới lòng thuyền với thức ăn mua ở chợ Tuần. Đi nhiều đói. Bữa cơm rất ngon miệng. Ngồi giữa sông nước như ngồi giữa một cánh đồng đầy nắng, và lòng tôi chợt nhớ ray rút những bữa cơm đồng, chan nắng, chan gió, chan mồ hồi. Hương vị quen thuộc dân dã sống lại bồi hồi trong ký ức, đánh bật những bữa cơm phố thị vô hồn.
No nê, chủ thuyền Phụ “đãi” anh em một bữa tấm sông Hương. Anh cho thuyền cập vào một cái bến cạn giữa dòng Hương. Nơi đây gò cát nổi lên rất cao, và nhìn thấy rất rõ điện Hòn Chén. Nước sông ban trưa mát rượi như nước giếng làng. Lâu lắm mới được tắm sông Hương. Tôi vục đầu vào dòng nước xanh mát và nghe cát mịn âu yếm dưới đôi bàn chân trần. Nhìn xuôi về phía nam, đôi Vọng Cảnh như một cô gái nằm nghiêng phô những tầng thông xanh sáng lóa dưới ánh mặt trời chênh chếch. Nơi ấy, dòng sông Hương như khép lại, để đi về phương bắc làm một khúc quanh nao nao lòng người. Tắm táp xong, chúng tôi lên đồi Vọng Cảnh. Con đường nhỏ mới mở rất dốc và khó đi. Từ bến sông đầy lau lách phải mất mười lăm phút mới đến được đỉnh đồi. Sông Hương từ đồi Vọng Cảnh hiện ra dưới trời chiều như một thanh gươm sáng lóa. Những con đò vạch dòng nước, tạo ra những vệt sáng lấp lánh hình rẻ quạt. Mùa này, hoa sim nở tím đồi, loài sim dại mọc trên đất cằn khô nhưng hoa thì rất đằm thắm. Những đóa hoa đẹp ấy đã chờ đợi bao đôi uyên ương tìm đến đây để tự tình. Sao không gọi đồi Vọng Cảnh là đồi tình yêu, khi mà hoa sim cứ nở lặng lẽ và tím ngắt dưới ánh hoàng hôn để chờ những nụ hôn thầm?
Chúng tôi về lại Huế. Một ngày đã trôi qua. Từ màu xanh thẳm buổi sáng và xanh sáng ban trưa, giờ đây trước khi chảy vào đêm tối, dòng sông Hương như nhỏ lại và tím ngắt đôi bờ. Lác đác đã thấy ánh đèn chài bập bùng trên sông. Màu trời hoàng hôn phủ những chiếc ráng đỏ hồng xuống Phu Văn Lâu. Bất chợt từ hàng me cổ thụ, tiếng ve kêu râm ran ồn ả suốt một dãy bến sông. Đò cập bến Tòa Khâm. Tôi nuối tiếc ngắm dòng nước chảy lững lờ, và lòng ao ước ngày mai lại có một ngày lênh đênh trên sông Hương…
Trích từ Tập San Nhớ Huế Tập 29, Chuyên Đề “700 Năm Huế”.
