Phan Thuận An
Những năm qua, một số tỉnh thành trong nước đã khai thác tiềm năng và thế mạnh về văn hóa, nghệ thuật và du lịch của mình để tổ chức Festival tại chỗ nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và nâng cao đời sống văn hóa xã hội cho nhân dân địa phương. Những hoạt động mang tính lễ hội đó đã đem lại một số kết quả bước đầu về cả vật chất lẫn tinh thần. Riêng ở Huế, Featival đã được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2000 và từ đó, cứ 2 năm diễn ra một lần.
Nếu Festival ở các tỉnh thành khác đều mang tính văn hóa dân gian thì Festival Huế đặt trọng tâm vào văn hóa cung đình. Điều này thật dễ hiểu, vì văn hóa dân gian thì ở đâu cũng có, còn văn hóa cung đình chỉ tồn tại duy nhất ở miền núi Ngự sông Hương, kinh đô triều đại quân chủ cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Văn hóa cung đình Huế chẳng những được nhân dân trong nước hâm mộ mà còn cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Trong 7 tài sản của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới, Huế có đến 2 di sản, dù đây chỉ là một thành phố nhỏ. Hai di sản đó là “Quần thể Di tích Huế” và “Nhã nhạc, Âm nhạc Cung đình Việt Nam”.
Di sản thứ nhất đã được ghi tên vào Danh mục Di sản Thế giới vào năm 1993 và di sản thứ hai được UNESCO vinh danh 2003. Cả hai đều là di sản văn hóa cung đình: một thuộc loại di sản văn hóa vật thể và một thuộc loại di sản văn hóa phi vật thể. Tuy hai di sản ấy đã t được UNESCO công nhận cách nhau 10 năm, nhưng quần thể kiến trúc cung đình Huế là di sản văn hóa vật thể đầu tiên của Việt Nam và Nhã nhạc cũng là di sản văn hóa phi vật thể đầu tiên của nước ta được thăng hoa lên tầm cỡ quốc tế.
Như ai cũng biết, hai di sản có giá trị toàn cầu nổi bật ấy đều là những thành tựu văn hóa rực rỡ do triều Nguyễn (1802-1945) để lại.
Ngay từ thập niên 1950, đã có một số người tiên lượng về giá trị của các di sản ấy như chúng đang được khẳng định ngày nay. Chẳng hạn như Thiếu tướng De Castries sau khi bị bắt ở Điện Biên Phủ và trong khi trả lời một cuộc hỏi cung vào năm 1954, đã nhận định một cách chuẩn xác rằng:
“Xét về mặt quân sự, tôi cho rằng không có ý nghĩa gì mấy, nhất là so với Tua-ran. Nhưng về mặt lịch sử, nhân văn, thì Huế lại rất phong phú, lại có giá trị lớn về tinh thần… Các đền đài, lăng tẩm của vua chúa ở Huế lại rất có giá trị trong tương lai” và “Huế còn có một nền dân ca cổ hay lắm… Huế không chỉ là niềm tự hào của đất nước này, mà còn là niềm tự hào của cả thế giới. Huế sẽ trở nên giàu có và nổi tiếng nhờ đông khách quốc tế đến tham quan và du lịch..” (Trích nguyên văn từ quyển “Hỏi cung tù binh Điện Biên” của Lê Mạnh Thái, NXB Văn Nghệ, Tp.HCM, 1987, trang 113-114).
Mặc dù De Castries chỉ là một nhà quân sự bại trận, nhưng đã có được những cảm nhận văn hóa mang tính “tiên tri” như thế, quả thật đáng nể.
Riêng về giá trị nghệ thuật kiến trúc cảnh quan của lăng tẩm Huế, trong quyển “Les Merveilles du Monde” được Viện sĩ Hàn lâm Pháp Jean Cocteau đề tựa và xuất bản tại Paris vào năm 1957, một nhóm 15 tác giả phương Tây đã xếp hệ thống lăng tẩm các triều vua Nguyễn vào hàng kỳ quan của thế giới.
Năm 1981, sau khi viếng Huế, ông Tổng Giám đốc UNESCO Amadou-Mahtar – M’Bow đã nhận xét: “Lăng tẩm các vua nhà Nguyễn… biểu hiện những biến tấu độc đáo trên một chủ đề thống nhất. Mỗi lăng vua với đặc tính riêng của nó là một thành tựu tuyệt mỹ của nền kiến trúc cảnh quan, và mỗi lăng tẩm khơi dậy trong cảm xúc của khách tham quan một âm vang đặc biệt. Lăng Gia Long giữa một khu vườn thiên nhiên bao la, gợi lên một ấn tượng hùng tráng và thanh thản, lăng Minh Mạng đầy vẻ trang nghiêm và lăng Tự Đức đem đến cho du khách một hồn êm thơ mộng.
Vào thăm lăng tẩm Huế, người ta có cảm giác như đi chơi ở những công viên tĩnh mịch giữa chốn núi đồi, nơi có suối chảy, thông reo, chim hót, hoa nở. Nghệ thuật kiến trúc đặc biệt của lăng tẩm Huế đã làm cho nỗi tang tóc phải nhường chỗ cho niềm vui tươi. Ở đây không có những hình ảnh gây chết chóc, buồn bã, lạnh lùng, sợ hãi như các loại hình kiến trúc mộ táng của bao vị đế vương của nhiều nước trên hoàn cầu. Thăm lăng tẩm Huế, du khách có được cái cảm giác lâng lâng thích thú như đi chơi giữa những hoa viên. Bởi thế, cách đây không lâu, trong một lần về Huế và đi thăm lại các lăng tẩm, nhạc sĩ Tôn Thất Tiết đã cảm xúc mạnh trước vẻ xinh đẹp của những hoa viên ấy và đã biên soạn một nhạc phẩm nổi tiếng với tựa đề: “Les jardins d’autre monde” (Những khu vườn của thế giới bên kia)
Nhìn chung về quần thể kiến trúc cung đình Huế, từ lăng tẩm cho đến cung điện, thành quách, đàn miếu… tất cả đều đã được qui hoạch, phân bố và cấy vào thiên nhiên một cách có hệ thống, mạch lạc, chặt chẽ, thích hợp và hài hòa. Tỷ lệ không gian giữa kiến trúc và môi trường thiên nhiên là một tỷ lệ vừa phải: hai yếu tố không lấn át lẫn nhau. Được vận dụng Dịch lý và thuật Phong thủy khi qui hoạch và xây dựng, kiến trúc cung đình Huế tiềm ẩn một triết lý thật sâu sắc. Cũng như con người và kiến trúc tại địa phương, thiên nhiên ở đây đã trở thành văn hóa để cộng tồn một cách bền vững. Nhờ bàn tay và khối óc của bao thế hệ tiền nhân, Huế dần dần trở thành một vùng “non xanh nước biếc, điện ngọc đền rồng” với những nét đan thanh từ ngọn núi đến dòng sông, từ đồi thông đến thảm cỏ. Đây là vùng đất của thơ, là bầu trời của nhạc, là thế giới của tâm hồn, là nguồn cảm hứng bất tận cho biết bao tao nhân mặc khách xưa nay. Huế đã được đánh giá là một “kiệt tác về thơ kiến trúc đô thị”.
Nếu định nghĩa kiến trúc là tổ chức lại không gian để phục vụ cho cuộc sống con người thì hệ thống kiến trúc cung đình triều Nguyễn ở miền núi Ngự sông Hương đã thể hiện nhiệm vụ một cách đầy đủ và có hiệu quả về mặt thẩm mỹ và đậm tính nhân văn.
Sự tồn tại khá đầy đủ diện mạo kiến trúc cung đình Huế là có tính duy nhất so với các cố đô Việt nam trước triều Nguyễn. Đối với cả vùng Đông Nam Á, Huế cũng có được một giá trị đặc biệt như thế, nhất là về phần ngoại cảnh thiên nhiên của kiến trúc cung đình. Mặc dù cố đô Huế đã bị tàn phá phần nào qua thời gian và chiến tranh, nhưng mãi đến năm 1978, sau khi đi khảo sát những công trình kiến trúc cung đình ở các cố đô trong vùng này như Pagan (Myanmar), Soukhothai, Bangkok (Thái Lan), Vientiane (Lào), Angkor (Cambodge).., một chuyên gia về kiến trúc cổ của UNESCO là kiến trúc sư Pierre Pichard đã tường trình rằng Huế là cố đô duy nhất trong vùng còn bảo lưu được hầu như nguyên vẹn kiến trúc và thiên nhiên của mình, còn các cố đô kia thì hoặc bị bỏ phế trong rừng sâu cho thiên nhiên tàn phá, hoặc bị biến thái và thu hẹp do sự phát triển bừa bãi, thiếu quy hoạch và thiếu cân nhắc của các công trình kiến trúc hiện đại trong đô thị.
Cho nên sau đó, vào giữa năm 1981, trong Kế hoạch Hành động (Plan d’Action) được ký kết giữa UNESCO và Việt Nam nhằm bảo tồn, trùng tu và phát huy giá trị quần thể di tích cung đình Huế, có một câu viết rằng: “Vẻ đẹp quyến rũ của Huế và lịch sử còn đọng lại trên các chứng tích tạo ra được một sức hấp dẫn có giá trị quốc gia và quốc tế.”
Nhưng, đó chỉ mới là giá trị phần “xác” trong di sản văn hóa cung đình Huế. Di sản này còn có phần “hồn” của nó nữa.
Ngay từ năm 1981, ông Tổng Giám đốc UNESCO A.M.Bow đã đề cập đến các giá trị thuộc lĩnh vực văn hóa tinh thần của cố đô Huế. Ông viết rằng:
“Huế không phải chỉ là một mẫu mực về kiến trúc mà còn là một cao điểm về tinh thần và một trung tâm văn hóa sôi động – ở đó đạo Phật và đạo Khổng đã thấm sâu hòa nhuyễn vào truyền thống địa phương, nuôi dưỡng một tư tưởng tôn giáo, triết học và hết sức độc đáo.
Chính tại thành phố này, nơi mà những người dân đều nổi tiếng là bẩm sinh có một hồn thơ lai láng, nhạc cổ điển cũng như nhạc dân gian đã được phát triển”.
Trong số các giá trị văn hóa tinh thần vừa nêu, có một giá trị được gọi là “nhạc cổ điển… đã được phát triển”. Đây chính là âm nhạc cung đình triều Nguyễn, tức là Nhã nhạc.
Nhã nhạc còn được gọi là Lễ nhạc, là loại hình âm nhạc tao nhã và thiêng liêng nhất, chỉ dùng trong các dịp lễ quan trọng của triều đình và những cuộc cúng tế trời đất, thần thánh cũng như tổ tiên của triều đại.
Thuật ngữ Nhã nhạc xuất hiện lần đầu tiên trong sử sách Việt Nam vào năm 1402 dưới thời nhà Hồ (1400-1407). Đến thời nhà Lê (1427-1788), Nhã nhạc trở thành một điển chế của triều đình với “bộ Nhã nhạc” chuyên về ca hát, và “bộ Đồng văn” chuyên về khí nhạc. Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XIX, khi Huế được dùng làm kinh đô của cả nước thống nhất, triều Nguyễn mới nâng Nhã nhạc lên đến đỉnh cao của nó, đặc biệt là dưới thời Minh Mạng (1820-1840). Nhã nhạc đã được triều đình coi trọng.
Với vai trò là một thành tố của các cuộc lễ do triều đình tổ chức, Nhã nhạc là loại âm nhạc không trình tấu độc lập mà gắn bó chặt chẽ với qui trình của nghi lễ. Điều này đòi hỏi các nhạc công, ca công và vũ công phải bám sát từng nghi tiết của cuộc lễ để mọi động tác được hài hòa với nhau.
Dưới triều Nguyễn, triều đình tổ chức rất nhiều loại nghi lễ cung đình có tính thường kỳ và bất thường kỳ: lễ Đại triều, lễ Thường triều, lễ Đăng quang, lễ Vạn thọ (sinh nhật vua), lễ Thánh thọ (sinh nhật Hoàng thái hậu), lễ Tế giao, lễ Tế miếu, lễ Tế xã tắc, lễ Tịch điền, lễ Tế văn miếu, lễ Truyền lô (xướng danh các tân khoa Tiến sĩ), lễ Ban sóc (phát lịch mới hàng năm), v.v… Sử sách và các chứng nhân cho biết hàng năm có hàng chục cuộc lễ như thế, đều được tổ chức chu đáo và diễn ra hết sức trang nghiêm. Trong một số cuộc lễ, có đến hàng trăm nhạc công, ca công và vũ công tham gia trình diễn theo sát những nghi tiết do Bộ Lễ ấn định.
Các qui định về dàn nhạc, nhạc cụ, cách thức trình tấu, kết cấu từng bài bản và nhạc chương đều rất chặt chẽ và cụ thể. Nhã nhạc triều Nguyễn phản ánh tính chuyên nghiệp rất cao. Các bài bản, lời ca và điệu múa đều phục vụ cho các cuộc lễ mang tính quốc gia, cho nên, Nhã nhạc được xem là quốc nhạc. Chính vì nó chứa đựng những giá trị văn hóa nghệ thuật cao cấp như vậy, cho nên khi công nhận Nhã nhạc triều Nguyễn là một “Kiệt tác Di sản phi vật thể và truyền khẩu của Nhân loại”, UNESCO đã nhận định rằng: “Trong nhiều thể loại âm nhạc phát triển ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc là mang tầm cỡ quốc gia”.
Với hai thành tựu rực rỡ mang tính vật thể và phi vật thể đã được thế giới khẳng định và tôn vinh như vừa được trình bày một cách vắn tắt trên đây, các di sản văn hóa cung đình Huế đã có sự đóng góp xứng đáng vào vườn hoa văn hóa đa sắc của nước nhà.
Nếu định nghĩa văn hóa là một động lực để phát triển kinh tế thì các chủ nhân của cố đô Huế đã phát huy giá trị của hai di sản văn hóa cung đình ấy một cách tốt đẹp và có hiệu quả, đặc biệt là trong các dịp Festival Huế 2000, 2002, 2004 và 2006. Có điều hết sức thuận lợi là môi trường diễn xướng của Nhã nhạc vẫn còn đó với cung điện, đền miếu, lăng tẩm, đàn tế, v.v… Hai di sản văn hóa cung đình cùng tồn tại và hỗ trợ cho nhau trong việc phát huy tác dụng và đem lại hiệu quả.
Nói một cách hình tượng, quần thể di tích cung đình Huế là sân khấu nguyên gốc để Nhã nhạc trình diễn, và ngược lại, Nhã nhạc làm cho các di tích trở nên sinh động và có hồn.
Với những di sản văn hóa cung đình cao cấp và độc hữu của mình so với tỉnh thành khác trong nước, và với những kết quả gặt hái được trong những dịp Festival Huế vừa qua cũng như sắp tới, hy vọng cố đô này sẽ được khẳng định là “Thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam” trong một ngày không xa.
Tuy nhiên, có một vấn nạn cần được đặt ra là khai thác tiềm năng di tích cung đình Huế thế nào cho đừng bị quá tải bởi lượng du khách, và khỏi bị mang tiếng là “khấu hao lịch sử” hoặc “uống tiềm năng, ăn di sản”.
Trích từ Tập san Nhớ Huế Tập 30, chuyên đề “Du Lịch Xứ Huế”.
